CHU TRI LỤC 3 CƯƠNG LĨNH CÁCH MẠNG VIỆT

Sep 13th, 2009 | By | Category: Chu Tri Lục, Lý Đông A Toàn Tập

CHU TRI LỤC 3
CƯƠNG LĨNH CÁCH MẠNG VIỆT

Nền tảng và điều kiện khách quan tạo thành đời sống thế giới của nòi giống phải được xét nét lại trên suốt cả lịch trình xưa, nay cho đến mai, lấy đó làm một tiêu chuẩn và một cột mốc cho sự đo ngắm con đường chính trị của nòi giống trong xã hội loài người. Đấy là cương lĩnh thứ nhất: Quốc tế biên tế phát triển.

Nòi giống coi là một chính thể mà chính thể ấy trên sự vận hành, tự có nền tảng và điều kiện của nó, ta có thể gọi là nền tảng và điều kiện trung gian ở giữa khách thể là quốc tế và chủ thể là dân tộc coi trên nội dung, trong suốt cái dòng sống ấy, trên một vị trí nào, bị những ảnh hưởng gì, phản ứng thế nào, thành công hay thất bại đều là những bài học lịch sử của chính trị quốc gia; sự vận hành của cái chính thể ấy không lìa cái trục trung tâm của mình, đấy là cương lĩnh thứ hai: Dân tộc căn bản lập trường.

Cái lập trường cỗi gốc của dân tộc bao giờ cũng đôi, như hình với bóng với sự phát triển bờ cõi của quốc tế. Lập trường từ muôn năm về trước đến nay trên đại vận biểu hiện bước đi của Totem biện chứng về Tiên Rồng đã, rồi mỗi giai đoạn trên lịch sử Tiểu Việt đều có thể quy nạp vào một lập trường với sự xử trí của người đương thời tự đắc thất mà định lẽ hưng suy, tồn vong, có thể ở đó mà định lẽ khen chê; rồi tất cả một chuỗi những lập trường đó kết lại với nhau thành một khí mạnh và có lý tắc nhất quán từ tối cổ đi theo một trật tự lịch sử, suy diễn cho đến lập trường tối cận từ 1856 cho đến 1885, lại từ 1885 đến 1918, từ 1918 đến 1939, từ 1939 đến 1950 cho tới tương lai 2000, ở đấy ra một thức vận số kỷ hà học:

1) (1939-1950) -  Dẫn một vạch tới bờ cõi phát triển của quốc tế (50-2000) mà thành ra con đường sống quốc dân của dân tộc.

2) (1939-1950) -  Dẫn một vạch tới bờ cõi phát triển của quốc tế (50-2000) mà thành ra con đường sống thế giới của dân tộc.

Nền tảng và điều kiện chủ quan trên đời sống dân tộc trong kết cấu xã hội và quan hệ kinh tế của nó làm xuất phát điểm cho sự quyết định một phương châm với kế hoạch rõ rệt trên cách mệnh, kiến thiết và chính trị của quốc gia, nó tức là nền người của mỗi cử động và mỗi chế độ. Đó là cương lĩnh thứ ba: Xã hội kết cấu của dân tộc.

Hiệu suất và hiệu quả của sự hô hào và vận dụng được tâm lý và yêu cầu của dân chúng, tâm lý bình diện của dân chúng từ đó dẫn một vạch tới tâm lý lập thể của dân chúng hoàn thành một trình thức lập phương của kỷ hà học, nó phản chiếu tất cả cái hình ảnh chế độ với sự nghiệp cách mạng và kiến thiết thật vững chắc, đó là đời sống xã hội của dân tộc. Đấy là cương lĩnh thứ tư: Dân chúng yêu cầu của dân tộc.

Tom góp bốn cương lĩnh trên mà thành một chương trình của cách mạng phải tiếp liền với những nền tảng và điều kiện bây giờ, sau khi cách mạng vừa thành công và tương lai kiến thiết. Cái mực độ của cuộc sống biểu hiện trên văn hóa loài người thành một chính thể từ bây giờ cho tới tương lai quy định cuộc sống chế độ về mọi mặt chính trị, quân sự, xã hội, kinh tế và nhân chủng của toàn thế giới là một mục tiêu để đạt tới cuộc sống cho dân tộc. Đấy là cương lĩnh thứ năm: Thời đại văn hóa của quốc tế.

Nhưng mà xuất phát điểm của cuộc kiến thiết quốc gia đứng ngay trên mực độ đời sống văn hóa của dân tộc, từ đó dẫn một vạch tới thời đại văn hóa của quốc tế hình thành con đường sống kiến thiết của dân tộc, chủ quan phối hợp với khách quan. Đấy là cương lĩnh thứ sáu: Thủy chuẩn văn hóa của dân tộc.

Tất cả sáu cương lĩnh trên, dưới một nghiên cứu thật đích đáng vạch tỏ rõ rệt những nguyên tắc tối cao và chắc chắn nhất, hiện thực nhất, làm chỉ nam cho cách mạng, chính trị và kiến thiết của dân tộc, đem tất cả con đường sống kỷ hà học chắp vào một con đường biện chứng thống nhất tính với một con số thống kê mà nắm thắng hiện thực và giả định chắc chắn hay diễn dịch đích đáng mà thành. Đấy là cương lĩnh thứ bảy: Chính trị phương châm quốc gia.

Sự thực hành những nguyên tắc chỉ đạo trên kia phải y cứ vào một hiện đồ có con số và điểm tuyến mà thi thố ra bằng những chương trình thực tiễn, xác thực và bách chân. Đấy là phần ứng dụng quan hệ nhất. Phải đem một biện chứng đúng xác nó dẫn dắt và một quan sát trọn vẹn nó giữ lại, mới khỏi sai lầm trên sự lĩnh đạo trong trận thế. Đấy là cương lĩnh thứ tám: Đấu tranh cương lĩnh.

Lại một khi cách mạng thoạt thành công, sự nhập thủ vào kiến thiết với sự đưa dắt sự kiến thiết ấy lên một bả ác để đem vào một quỹ đạo xã hội cho thành công, còn trông ở cái triết học, khoa học và thuật học trọn vẹn tỏa ra một dự biết, dự đoán đó mà thành công trước khi thành công. Đấy là cương lĩnh thứ chín: Kiến quốc qui mô.

Chín cương lĩnh trên trong nghiên cứu và phát hiện phải nhờ dựa vào một thức học đem quy nạp vào biện chứng của chủ nghĩa, sự thâu thái được cái hiệu quả lý luận thống nhất với thực tiễn, con số thống nhất với lý tắc của lịch sử thống nhất với biện chứng, đó là do sự trăm phần trăm đúng xác của chủ nghĩa.

Chủ nghĩa trên tiêu cực tác dụng mới để tuyên dương và hiệu triệu, nhưng cái tác dụng tích cực của nó là ở trong sự thành lập đời sống đích xác của loài người, tức là ở sự nghiên cứu, phát minh, kiến thiết và vận dụng thực tiễn. Chủ nghĩa vừa sinh ra trước 9 cương lĩnh này để nghiên cứu nó mà còn vừa sinh ra sau nó để lấy nó chứng minh trên lý luận và thực tiễn cho sự đúng chắc của chủ nghĩa, cái ấy bảo đảm cho hành động chúng ta thành công.

19. CƯƠNG LĨNH 1

Quốc tế biên tế phát triển.

Thời kỳ thành thục rồi hủ bại của một văn minh đưa dắt đến cuộc vỡ lở của toàn đời sống thế giới, ở đó sản sinh ra con đường quặt của vật chất và tinh thần, nó tu chỉnh lại con đường nhân loại học của tiến hóa gọi là kỳ chuyển hình từ đó.

Như ta thường nói, từ 1862 trở về trên, trước 1856 là thời kỳ mà đời sống quốc tế và khách quan của dân tộc ta chỉ hạn chế trong lòng thiên hạ nòi Hán. Sự gặp gỡ Đông Tây đã đem trận 1870 và 1918 thế giới hóa mà trải qua giai đoạn 49 năm đó tới thời kỳ 1919-1939 là thời kỳ rõ rệt nhất của loài người trong cuộc đấu tranh của ba trận doanh quốc tế (dân chủ tư bản, cực quyền chủng tộc, cộng sản thống trị). Cuộc hỗn chiến 1939­1945 quyết định cái mầm mống của vỡ lở và chuyển hình, nó đặt để thời kỳ hướng tâm với một chế độ thế giới mới từ 1950 trở đi.

Dân tộc nhân tố, giai cấp hình thể và tâm lý trào lưu của thế giới trong khoảng hỗn chiến này đã quyết định xu hướng tương lai của chúng ta; để mà thành công, chỉ chiếu ứng vào cái hiện đồ mà xếp đặt công cuộc cách mạng của dân tộc.

20. CƯƠNG LĨNH 2

Dân tộc căn bản lập trường.

Lập trường 1940 và lập trường 1950 là hai điều cần biết. Hãy nói trước về lập trường 1940 đối Tàu, Nhật, Thái, Pháp, quốc tế và tự thân.

1) ĐỐI TÀU

Muốn biết lập trường của mình đối với người và người đối với mình, sự tự xem mình một mặt đã cần, sự xem người trên hết các xu hướng của phát triển lịch sử cùng là chính trị lộ tuyến của người về phía mình một mặt còn rất cần.

Trung tâm của quy luật lịch sử Tàu là: “Hữu đức giả hữu thổ”; hữu đức đây không phải là đạo đức, nhưng lấy ý nghĩa nghiêm ngặt của nó trong kinh sử Tàu mà giảng giải thì nó là lấy tài hóa thu nhân tâm. Cái quy luật đó đem phối hợp với ý chí của dân tộc ấy là “hưng Hoa diệt Di”, hình thành một cái định nghĩa của một tấm lịch sử xâm lược. Cái nguyên tắc chủ yếu ấy từ cổ tới nay đã từng thực hành mà còn có thể nói có chứng cớ rằng vẫn thực hành. Bằng cớ sự đem ra thực tiễn các kho nguyên tắc này là kinh sử vẫn thấy nhan nhản. Kinh sử vốn là miệng lưỡi của cái thanh giáo nhà nho làm trung kiên cho xã hội quan liêu dân chủ, trung lưu tư sản phong kiến của cái thiên hạ đại đồng chủ nghĩa lối Hán, mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược. Chủng tộc được suy tiến theo lối “tam niên dưỡng nhi giáo chi tất giai ngô dân”, văn hóa được suy tiến sau chủng tộc làm sự duy hệ và thế thủ sau thế công: “tuần tuyên văn giáo, thủ tại tứ Di”, kinh tế theo sau nữa: “hữu đức giả hữu thổ” mà chính trị chiếm lĩnh là cần yếu hơn “phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ”, tất cả đều phục tòng dưới lưỡi lê: “nhưỡng Di Địch, phạt Man Khương”.

Nếu không tin mà còn tin vào Khổng Mạnh. xin hãy giở pho sử muôn năm của ta với tất cả thảm thương sỉ nhục của sự bị đè nén, bị xâm lược, bị hiếp tróc; lại xin tham khảo lịch sử của các dân tộc Man Di bốn phía Tàu. Quốc dân, chính trị gia và cách mạng gia hãy giở lại cái quan hệ của sự giúp đỡ cách mạng lẫn nhau giữa nòi giống ta và nòi giống Hán, hãy thể nghiệm cái sầu hận đời Hậu Trần và Lê Chiêu Thống, hãy tiếc róc cái đối đãi tốt của ta đối với lũ Hậu Tống, Hậu Minh.

Còn có kẻ thân Tàu, sùng bái Khổng Mạnh, ủng hộ Tôn Văn, nói rằng việc cũ bỏ đi, trăm điều phải trông vào xu hướng mới. Cái xu hướng mới của Cách Mạng Tân Hợi (1911) tức là sự chuyển hình của một đế quốc lối Á Đông phong kiến, sang lối dùng những tinh thần và vật chất vũ khí của các đế quốc tư bản lối Âu Châu.

Hãy xem Đảng Quốc Dân Tàu hiện làm chủ trào lưu của chính trị lộ tuyến và xu hướng nước ấy. Sự quyết định chính sách của mỗi đảng hay mỗi nước còn căn cứ vào cái thành phần xã hội của đảng hay nước ấy, tự nó giải nghĩa hết và quy định hết các hành vi hay tâm lý để rồi hãy xem đến quốc sách với chủ trương sau. Nền tảng của Quốc Dân Đảng Tàu bao gồm một giai cấp từ trung tư bản đến đại tư bản trở lên cầm đầu bởi lũ quân phiệt tư bản nho sĩ đè nén tiểu tư sản và vô sản giai cấp, mua chuộc sự thỏa hiệp với đế quốc bên ngoài, mong học đòi cái kết cấu ấy quyết định con đường tư bản đế quốc chủ nghĩa, phối hợp với chủng tộc thiên hạ chủ nghĩa cũ mà nảy nở ra một hình thức đế quốc chủ nghĩa Tam Dân. Tam Dân chủ nghĩa chỉ là một chủ nghĩa chủng tộc xâm lược, hơn nữa là một chủ nghĩa xâm lược thế giới. Đã biết rằng Tam Dân chủ nghĩa là thủ đoạn đó, sự phân tích dân tộc chủ nghĩa là đặc biệt cần yếu (chú ý: dân tộc chủ nghĩa của Tam Dân).

Dân tộc chủ nghĩa ấy tóm tắt 5 yếu điểm này:

A. Trung Quốc dân tộc tự cầu giải phóng hay là nòi Hán tự cầu đổi lốt.

B. Quốc nội dân tộc nhất luận bình đẳng.

Khoảng năm 1885 cách mạng Tôn Văn ra đời, cực lực chủ trương chủng tộc. Lúc bấy giờ y đề xướng ra nòi Hán diệt nòi Mãn, rồi lãnh đạo nòi khác ở Á Đông, chưa bị hay hiện bị dưới ách của Tàu. Sự dập gẫy làm y giảm bớt sự quá khích mà đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hòa (khoảng Tân Hợi 1911). Ngũ Tộc Cộng Hòa chỉ là một liều thuốc độc bọc bánh ngọt, bởi vì nếu kể về nhân khẩu trong đất Tàu thì 90% là Hán còn 10% là các nòi Mãn, Mông, Tạng và Miêu (Việt núi). Như thế thì chế độ Ngũ Tộc Cộng Hòa dung túng cho số đông nuốt số ít mà số đông ấy càng được đông người và thêm đất, hợp với mục đích lập quốc lắm. Nhưng bệnh quá khích lại nổi dậy để Tôn Văn (khoảng năm 1916) đề xướng ra luận quốc tộc. Quốc tộc là gì? Để Tôn Văn tự giải nghĩa. Là: đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới. Sự yêu cầu đồng hóa bằng áp bách và hiếp tróc các dân tộc chung quanh là như thế. Còn một điểm cần chú ý trong tập “Kiến Quốc Đại Cương” nó bày tỏ cái mâu thuẫn của dã tâm đó càng bộc lộ là đã nói để các dân tộc nhỏ yếu trong nước được bình đẳng, tự quyết mà nguyên tắc kiến quốc tối cao lại quy định đem chia toàn quốc ra tỉnh, quận, huyện. Sự quy định ấy giá trị một lò đồng hóa người.

C. Liên hiệp nhược tiểu, cộng kháng cường quyền, nó là một bãi nhỗ chua chát vào mặt các nòi giống nhỏ yếu toàn thế giới, bằng sự liên hợp ấy làm dưới Đại Á Tế Á chủ nghĩa của Tôn Văn (khoảng năm 1921-1922). Tôn Văn nói: “Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt… liên hợp lại cùng chống đế quốc” (chú ý đến chữ “đem” và “liên hợp”). Ấy đấy sự liên hợp như vậy, nghĩa là đem mà thôn tính vào, tất nhiên cái truyền thống “thủ tại tứ Di” với cái thuật ngữ “sinh tồn không gian” làm cho người Hán ngớp đất Nam Dương nhiều nhất.

D. Hưng diệt kế tuyệt, cứu nhược phù khuynh, gọi là lý tưởng ngoại giao của lễ vận đại đồng của họ, nhưng đó chỉ là một chiêu bài giả đạo đức bao trùm cái sự thực can thiệp đến đời sống người khác và bắt ép các nòi giống nhỏ yếu thế nhập đảng Tàu và tôn phù chủ nghĩa Tam Dân để mà đi đến mục đích cuối cùng là:

Đ. Hoàn thành kiến thiết thế giới đại đồng, nghĩa là xâm lược thế giới là bước cuối cùng của chủ nghĩa. Dân Sinh với Dân Quyền là những hộc lương, xẻng đất và súng ống đeo lên lưng Dân Tộc chủ nghĩa để đi trên con đường năm chặng trên kia, bất tất luận.

Nhưng nếu có người trách tôi là nhiễu sự và moi móc thì nên hiểu rằng ta phải cùng lý để mà tri ngôn, lời nói đa số là mặt nạ, phải dò đến bối cảnh và động cơ của các lời nói ấy mới biết rõ cái hành động tiềm tàng trong bản vị. Còn nhớ Tôn Văn nói với cụ Phan: “Các ông bất tất phải làm, Việt Nam chỉ là một tỉnh của Tàu, chúng tôi làm xong thì xong”. Cũng như họ Tưởng bây giờ nuôi mấy đứa Việt gian và nói rằng: Việt Nam là Tàu, Việt Nam để người Tàu làm giúp cho”. Thử hỏi khi Tàu đổ bộ trên đất này, bao nhiêu quyền hành về tay Hoa kiều cả, binh sĩ bị hỗn hóa với lính Tàu thì thi hành kế gì để đuổi chúng về?

Nhưng nếu lại còn nghi nữa, cho rằng đấy chỉ đứng về lý luận mà quan sát, cần biết rõ những hành động thực tế của chính phủ ấy thì những chứng cớ thực tiễn, ta lại bày tỏ ra đây để cùng chứng minh cho sự thực là sự thực, phải là sự thực hay sẽ là sự thực:  Dư luận dưới sự chỉ đạo của đảng Quốc Dân Tàu, nói về vấn đề Việt Nam chỉ có hai câu trên trăm nghìn muôn miệng là: Việt Nam là thuộc địa của Tàu, ta phải thu phục lại đất mất cũ của ta là Việt Nam.

- Giáo dục để nuôi cái xu hướng chính trị trong mầm mống nòi giống cũng chỉ có hai câu đó suốt từ ấu học đến đại học.

Học thuật và lý luận chỉ đạo của lịch sử học tiến từ “Quốc Tộc Luận” và “Hán tộc ưu việt” đến “Quốc quân sử luận” một ngày một tăng tiến đến lĩnh vực của dã tâm.

-  Chính Trị Địa Lý Bộ, tức là bộ tham mưu chính trị quy định chính lược và chiến lược. Bộ ấy ở Trùng Khánh năm 1940 lên tiếng ra bộ “Đông Á Địa Lý” quy định tám con đường phát triển của nòi Hán sau này:

1) Tây Bá Lợi Á.
2) Tây Tạng, Ba Tư.
3) Tân Cương.
4) Ấn Độ.
5) Việt, Thái, Miến, Tân Gia Ba.
6) Nam Dương liệt đảo.
7) Úc Châu.
8) Thái Bình Dương Đông liệt đảo, Hàn.

Nhưng mà sự chuẩn bị quân sự để nhập Việt có thể moi móc cái tim ruột, cái mục đích của cuộc hành quân này, mặc dầu là đi giải phóng, bằng sự phát quật các chiến lệnh trong quân, ngoài dân do bộ tuyên truyền và quân chính bí mật phát bố ra: 1) Lộ ố Nàm phồ (lấy vợ An Nam). 2) Dìu ố Nàm sìn (tiêu tiền An Nam). 3) Chì ố Nàm tì (ở đất An Nam).

-  Kiều Vụ Chính Sách: tức là tiền phong của ngoại giao xâm lược. Ngày 1 tháng 5 năm 1933, tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải đăng một cuộc “Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hòa Quốc vận động” chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực lập quốc, xâm lược lấy toàn đất Nam Dương lập thành Hoa kiều Cộng Hòa Quốc, trong đó có quy định về Việt Nam: Bắc Kỳ quy về mẫu quốc, Trung Kỳ và Nam Kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Nước ấy sau khi đồng hóa hết thổ dân rồi sẽ hợp nhất với mẫu quốc. Cái suy luận ấy suy động bởi Quốc Dân Đảng Tàu, cũng như hồi 1942, tháng 11, ngày 26 trên tờ Quảng Tây Nhật Báo một nhà Kiều Vụ Ủy Viên Trung Ương có tiếng đề xướng ta “Hoa kiều thổ hóa vận động” quy định rằng bề mặt phải thổ hóa, nghĩa là người Hoa kiều phải ăn mặc theo người thổ dân, nói tiếng người thổ dân, ảnh hưởng văn hóa người thổ dân để bề trong tăng mạnh thêm tác dụng Hoa hóa.

Chính sách chiến hậu của người Tàu theo đúng như mục tiêu chính trị trên, đối trong hết sức tăng gia quân bị, trọng công nghiệp và đào tạo một quốc dân hoàn toàn Ban Siêu và Mã Viện thực dân, khi ấy đối ngoài phải tranh đòi quyền lợi Hoa hóa cho Hoa kiều và đối đãi với các nước phiên thuộc cũ theo một chế độ mới. Sự Tôn Khoa yêu cầu ở Hoa Thịnh Đốn chiếm lĩnh Việt với Hàn chứng thực rằng họ muốn nối gót đế quốc, xây đắp một liên hiệp “Thập quốc” đòi đứng làm môi giới giữa Đông Tây (ngoại giao tay trên) và làm sức an định (tiếng thuật ngữ của đế quốc Anh) cho Đông Á (nghĩa là bá chiếm), đồng thời đòi thực hành bảo hộ mậu dịch chính sách (ăn cắp chính sách bloc).

Họ hiện nay đang dang hai chân, một chân đứng về đế quốc, một chân đứng về nhược tiểu để mà đóng vai “con trời” trên thế giới. Sự giúp đỡ De Gaulle và nể sợ Pétain đi đôi với sự ngược đãi cách mệnh Việt tỏ rõ rằng họ muốn làm cường quốc và đứng về phe liệt cường để quay giáo lại các nước nhỏ yếu. Đối riêng Việt Nam, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ nho thế nào, truyền bá Tam Dân chủ nghĩa thế nào, thống trị thế nào? Hỡi người Hán! Hãy quay lại mà dùng cách thực dân truyền thống nhà Minh đã văn minh chán, thử xem người Việt sẽ biết đối phó cách nào?

Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm. Cho nên tự phần ta nên hiểu: đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó. Ta chớ nên hòng làm Hòa Lan hay Thụy Sĩ; bọn thân Tàu tất cũng diệt hết đi chớ để nó làm tay trong như Phần Lan với Nga. Ta còn nguy hiểm hơn Phần Lan đối với Nga nhiều. Phần Lan chỉ có một Nga, ta còn phải phòng cả thế giới, vì thế giới kẻ nào chiếm được ta mới xưng bá được lâu dài; tiện nhất và thẳng đường nhất là Tàu, ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc, phải hiểu thế.

Hiện giờ đây nòi Hán đã và đang còn tiếp sẽ uy hiếp đến sinh mệnh ta. Chúng ta thử tính xem số Hoa kiều trong nước ngoài 60 vạn, hợp với số minh hương hơn 2 triệu, một số 3 triệu nội gián ấy trên mặt nhân chủng quen thói lấy vợ người mà giữ gái mình, ảnh hưởng tới sinh lý của nòi giống là thế nào? Sức lũng đoạn kinh tế của bọn Hoa kiều mới lớn, từ đô thị đến ngõ hẽm, từ tầu biển đến ghe sông, từ mỏ quặng đến đồng ruộng, từ bán gạo đến lạc rang, nhất nhất nằm trong tay bọn chiệc cả. Lấy sức tiền ấy mà giẫy thì dân chủ hay cộng sản, ba phần tư nghị viện với nội các giao tay người Tàu. Sự ngoại giao tay trên của người Tàu đi với các điều kiện xâm nhập muốn làm mưa gió thì làm trong ta, đủ cho chính trị của ta không phải chính sách Việt nữa, uy hiếp quân sự càng lớn với nội ứng, ngoại hợp trên các chiến thuật tối tân ngày nay. Sự đồng hóa càng dễ về văn hóa, một khi nó lợi dụng được bọn thân Tàu và đồ nho. Ấy chỉ riêng một cái ám ảnh Hoa kiều, mặc dầu cuộc chiến tranh này Nhật Bản đã làm tổn hại và giảm đi chút ít, cũng đủ làm cho ta thấy sự diệt vong trước mắt, nói chi đến cả sức của chính quốc.

Huống chi Nhật, Pháp chỉ là quân địch trước mắt chớp qua và quá độ, Tàu mới là quân địch sau cùng, tức là kẻ có thể quyết định diệt vong được mình. Chúng ta phải nghiên cứu, quan sát và đề phòng kỹ lưỡng quân địch tối hậu và sự đấu tranh với họ mới hẳn quyết định cái vận mệnh của mình. Những sách lược của chúng ta phải tính tới và tập trung vào vận mệnh tối hậu, nghĩa là vào quân địch tối hậu. Chúng ta phải biết bắn vượt tầm con mắt chúng ta qua khỏi cái trước mắt chúng ta, như thế mới nắm được sự sống còn trong tay chúng ta. Cho nên kể đường trường ra, chúng ta mắc vào tay quân Tàu trong ba tháng thì toàn dân đói khát, cái dũa không còn mà dùng, trong sáu tháng thì ruộng bỏ hoang, đường hết người đi, đàn bà tự tử quá nửa, trẻ con chết ba phần tư, đàn ông chết hai phần ba và trong mười năm thì nòi giống hoàn toàn diệt vong. Nhưng có thể trông thấy Tưởng và Uông từ năm 1944 đều xuống cả. Nước Tàu từ năm 1945 trở đi trong 20 năm nội loạn và ngoại hoạn ê chề còn đến để trừng phạt cái dã tâm muôn thuở ấy. Quân của nó sang ta mảnh giáp không còn mà về dưới sức lan tràn sùng sục của sóng đáy.

2) ĐỐI NHẬT

Những kẻ thân Nhật chỉ trông thấy cái sướng chợp qua của cái thân ô trọc một mình, hoặc bị huyễn hoặc bởi cái cảnh tượng một lúc lên như diều của dân tộc Phù Tang. Thực tại lý luận Đại Đông Á chỉ là một chủ nghĩa tư bản đế quốc trần truồng muốn thực hành tái sinh sản, mà tinh thần Thần Đạo, Võ Sĩ Đạo, Bảo Giáo trên cái để uẩn lịch sử của Nhật Bản, suy động cái lý tưởng tám tường một mái kia, Điền Trung đã thay ta và thế giới mà cắt nghĩa rõ rệt rồi, bất tất phải nghi ngờ và bàn bạc cho rờm.

Một điều cần biết là Nhật Bản sẽ đối đãi ta bằng cách nào trong bốn cách sau:

a) Vẫn để Pháp thống trị chăng? Pháp chỉ bị lợi dụng một khi Vichy còn ngoại giao quan hệ với phe đồng minh, làm lá chắn cho Nam Dương. Pháp được để yên khi Nhật chưa được Đức đồng ý về vấn đề Đông Dương. Pháp chỉ còn được ăn ở khi Nhật chưa tìm được nguyên cớ triệt thủ sau cùng, không thể có khi nào Nhật dung Pháp được cho vướng chân và bận ý mình, khi chiến tranh lan tràn đến đất này. Lúc ấy là thời cơ rất dễ.

b) Nhật tự thống trị chăng? Mục tiêu to nhất ngày nay trong 20 năm cho Nhật là xong cuộc lũng đoạn Tàu và kiến thiết Nam Dương; ta chỉ là đất liên lạc trạm và hậu phương cơ địa, chưa cần có chính trị chiếm lĩnh.

c) Để cho Uông Tinh Vệ chăng? Uông với Tàu chỉ là con cá trên thớt của Phù Tang, không phải là giúp đâu.

d) Để cho Cường Để chăng? Cường Để có thể về làm chủ đất Việt. Nhật thắng sẽ giúp 20 năm trên một trình độ cho ta đủ làm chư hầu và phên che mặt Nam Tàu cho Nhật Bản để sau 20 năm, thỏ săn chết thì chó săn diệt. Nghe nói đã có bí mật lâm thời chính phủ ở Đài Loan đi đôi với cái mật ước là Cường Để được từ Nam Ninh trở về, nhưng Nam Kỳ phải nhượng cho Nhật với cả quyền lợi đường sắt, mỏ quặng và buôn bán.

Nhưng quốc dân thử xem và nghiệm có những sự biến loạn từ bốn bề đưa lại, để Cường Để có về đành lại phải ra đi, mà cơ đồ Nhật Bản cũng như đế quốc sắt mà chân đất sét, từ trong nội bộ vỡ lở ra mà sụp đổ.

3) ĐỐI THÁI

Đại Thái chủ nghĩa tức là Đại Việt chủ nghĩa đẻ non và đồng hóa vào trận doanh cực quyền. Thái chỉ là tay sai của Nhật Bản. Số phận của Thái đã hết tự chủ, chỉ còn là phụ thuộc của Nhật. Nhật thắng thì đưa Thái lên trình độ cắt của ta đôi chút đất; Nhật bại, Thái sẽ thành chiến trường. Lập trường Thái lúc ấy sẽ thành lập trường ta và Đại Nam Hải. Nhật và Thái lúc ấy sẽ thành những bạn bí mật cho cuộc phục hưng và phục hoạt Việt.

4) ĐỐI PHÁP

Chính quyền Pétain hiện đang thống trị tại Việt Nam; chính sách Pétain cố nhiên là đế quốc mong sự chuyển mình ngóc dậy bằng cách tự lực và truyền thống. Sự đi thân với Trục tâm thực lòng của Laval đã làm lạc lối cho Pétain. Số phận Pháp Vichy bây giờ đây chỉ là phụ thuộc với Trục tâm và chính quyền Decoux cũng theo với cử động của Nhật mà mất còn, bất tất phải luận nhiều.

Bên ngoài và đối đầu với Vichy, còn cái chiến đấu Pháp quốc của De Gaulle mới thỏa hiệp với với Giraud trên một nền tảng thực èo ẹp và sau cái kết quả tranh giành nhau ở Bắc Phi lấy thế lực của Anh, tận cùng bằng sự ám sát Darlan và sự nhượng bộ một cách hậm hực của Mỹ. Dầu sao chính sách của nhóm này, tức là chính sách của De Gaulle, mà 90% De Gaulle tức là cái đuôi của Luân Đôn, trên sự ủng hộ của đế quốc Anh trọn vẹn mong nhờ đó mà đế quốc Pháp chết dở cũng được sống lại không sây sát. De Gaulle đã tuyên bố rõ rệt là khôi phục hiến pháp 1875 với cả đế quốc trọn vẹn không sây sát một ly. Những hoạt động của De Gaulle hiện nay về ngoại giao rất đáng chú ý, nhất là người Tàu rất nể sợ y. Đó là một lẽ đáng để người Việt phải cảnh tỉnh với tụi De Gaulle đóng ở bên Tàu, phái đảng De Gaulle ở trong nước, tụi chó săn Việt thân với De Gaulle, hoạt động của y và sự phù trợ của Tàu. Nhưng mâu thuẫn của dã tâm Tàu đối với Việt xung đột với những tham vọng của De Gaulle, vì đó thêm vào sự can thiệp của Mỹ, Anh và các vấn đề nội bộ mà chuyển hình thế và thời cục Việt Nam sang một phương hướng khác, nếu có thể tự chuyển được, nghĩa là nếu người Việt có chủ lực và có thể nắm giữ được số mệnh trong tay mình, trong một thời cơ mình đã chắc chắn biết trước.

Hỡi người Việt! Chúng ta không sợ gì những thế kỷ tương lai là đen tối, nếu ta biết giác ngộ và cố gắng.

5) ĐỐI QUỐC TẾ

Quốc tế phải chia làm hai phe: phe Đồng Minh và Trục tâm. Chúng ta có thể bị một trong hai phe công quản được và sự công quản nghĩa là cho chúng ta tụt xuống địa vị bán thực dân, năm cha ba mẹ, một cổ bốn năm tròng, chúng ta phải liệu cảnh tỉnh mà liệu cầm lái lấy chủ lực.

Chúng ta nên hiểu rằng nhiệm vụ thời đại của chúng ta là làm trọn vẹn cho dân tộc được cội gốc độc lập và dân chúng được cội gốc giải phóng mới thôi.

Sự vạch một con đường từ lập trường 40 đến lập trường 50 tỏ rõ các phương hướng chính lược và chiến lược của cách mạng, chính trị và kiến thiết của dân tộc trên thời đại. Có một điểm cần đặc biệt và thân thiết chú ý là lập trường 50 trở đi phải là một lập trường chung của các dân tộc nhỏ yếu Đại Nam Hải, một mặt trên số phận nó là công cộng cho tất cả các dân tộc nhỏ yếu Đại Nam Hải, và một mặt vì số phận các dân tộc ấy dù có đại đồng tiểu dị, song vì sự sinh tồn lâu dài của tự mình đứng trước sóng trào của quốc tế, mà tự thấy mình cần phải liên lạc số mệnh mình với số mệnh chung kia; nhưng nếu đứng trên một nhỡn quang íck kỷ một cách thấp kém, chỉ lo đến sự giải phóng riêng một mình, cái cử động ấy dù có thành công cũng mang liền đến sự thất bại đi sau năm năm hay mười năm sau mà thôi.

Phải biết rằng độc lập riêng một mình có vững chắc hay không là nhờ ở sự đoàn kết của các độc lập riêng của các dân tộc trong một độc lập chung. Vì lúc bấy giờ Thái Bình Dương sẽ là một nước có một vận mệnh chung giữa sự xâu xé của các mặt Anh, Nga, Mỹ, Tàu, Nhật, Úc, Gia Nã Đại, Pháp.

Tàu trên nguyên tắc đã đứng ra làm công địch của Thái Bình Dương rồi, bất tất luận nhiều.

Anh không chịu bỏ một ly trong đế quốc, nghĩa là quyền lợi về thương mại và thế lực hải quân chưa rút ra khỏi đây.

Mỹ không còn nơi nào bổ béo như Tàu mà hưởng chung nữa, tất tập trung chú ý vào đất này (trừ những gắng sức ở Âu Châu) mà chèn với Anh ra.

Nhật với chính sách quang vinh cô lập (splendide isolation) và đại lục quân thế (équilibre continental) của Anh Mỹ tất chưa bị, hết sức phát triển ra ngoài mà lúc ấy chỉ còn ở đây.

Nga có năm lối quốc sách là: Baltique, Hắc Hải ra Dardanelles, Thái Bình Dương qua Sibérie, Đông bộ Caucasie xuống Arménie và Cận Đông, Turkestan sang Viễn Đông. Trong năm lối ấy, chiến hậu tất có cơ hội nhúng tay vào Thái Bình Dương.

Úc với Gia Nã Đại trên chính sách kinh tế quốc gia chủ nghĩa, được đề bạt của Mỹ trên ngoại giao cho được nửa độc lập, rồi sẽ hoàn toàn độc lập, dần dà thấy cần phải phát triển vào Nam Dương.

Pháp tuy sẽ rất muộn màng mới khôi phục lại sức khoẻ được, nhưng mấy cù lao ở Ấn Độ Dương còn làm được căn cứ phát triển.

Sự đấu tranh cho nền độc lập phải tự một nơi mà tỏa ra bốn bề, phải liên kết thành một khối Đại Nam Hải, phải đẩy sức gốc các dân tộc nổi dậy lên một cuộc bùng nổ nó giành lại sống còn về với ta.

Bấy giờ chủ lực cách mạng của chúng ta là đáy tầng đại đa số dân chúng, bởi chỉ có một sức ấy mới hoàn thành được toàn dân chiến lược và toàn diện cách mạng, nó cần yếu cho một cuộc đấu tranh sống còn suốt mặt. Cái sức ấy tính vào nguyên tắc lịch sử mới thấy nó hiển nhiên bộc phát, sẽ không phải ngờ.

21. CƯƠNG LĨNH 3

Xã hội kết cấu.

Cái chủ lực ấy gọi là đáy tầng, là sức gốc, là mặt trận gốc, gồm có 98% dân chúng trung kiên của xã hội Việt, nó sẽ đồng hóa và chỉ có nó mới lãnh đạo được hết hai giai cấp kỳ hình phát triển là vô sản 1% và tư bản 1%. Mao Trạch Đông nói về xã hội Tàu “hai đầu nhỏ, bụng to, chỉ có đảng nào tranh thủ được giai tầng giữa ấy mới thắng nổi”.

Cái giai tầng trung kiên về chủ lực kia hình thành từ đời Vạn Thắng, trải qua một ngàn năm bền giai tranh đấu và ngưng kết thành tinh hoa đời Lý, Trần, chập chững dưới Lê, Nguyễn, phủ phục ẩn tàng dưới đế quốc Pháp, đấy là lý tắc Tiên Rồng của Totémisme.

22. CƯƠNG LĨNH 4

Dân chúng yêu cầu.

Tất cả đáy tầng và mặt tầng chỉ có một yêu cầu là “cứu quốc với tồn chủng” (như đã nói rõ trong Tuyên Ngôn).

23. CƯƠNG LĨNH 5

Quốc tế văn hóa thời đại.

Văn hóa, khoa học, quân sự và kinh tế tư bản chủ nghĩa, quân hóa công nghiệp qua một thời kỳ chuyển hình dưới áp lực của hướng tâm cách mạng tất sẽ hình thành một thế giới mới trên nền tảng văn hóa ấn định có bốn tính chất:

Quốc tế tập đoàn an toàn (bloc mà không phải sécurité collective), dân tộc hướng tâm vận động, quốc dân dân chủ chính trị hóa với quốc dân kinh tế xã hội hóa.

Ba vấn đề của thời đại và sáu vấn đề của thế giới và nhân loại ở trên sự ấn định mới đó mà giải quyết một khoé trời, mở ra thời đại Đại Việt và thiên hạ Đại Nam Hải.

24. CƯƠNG LĨNH 6

Dân tộc văn hóa thủy chuẩn.

Thời đại Đại Việt mở màn ra bằng một văn minh Viêm mới là kết tinh của muôn năm bồi thêm chút tinh hoa của đời nay, một tinh thần khoa học chủ nghĩa kết hợp với Tam Giáo triết học cũ, di sản nối liền tự đó vào văn hóa trình độ quốc tế bằng Thắng Nghĩa, tất cả một thể hệ và một tiệp kính của đời sống.

25. CƯƠNG LĨNH 7

Chính trị phương châm.

Như đã nói trong Tuyên Ngôn, căn cứ học thuật trong chính trị phương châm còn nên dãi bày trên sự thành lập của nó bằng tất cả các công việc phát triển và nghiên cứu đạo lý của cách mạng, của kiến thiết, đạo lý của chính trị, tất cả triết học, khoa học, thuật học và sử học tập đại thành dưới học thuật của biện chứng pháp.

26. CƯƠNG LĨNH 8

Đấu tranh cương lĩnh.

Dự kế cách mạng đã từng kê định rõ rệt từng ly, từng tí, cần nói thêm chỉ là biện chứng của quốc vận ta trên hai kỳ:

1)      Các đế quốc tự chối bỏ nhau trên mặt tầng.

2)      Toàn dân nòi giống đáy tầng phục hưng và phục hoạt trên các cơ sở cách mạng đặc biến, đột biến và thuế biến.

27. CƯƠNG LĨNH 9

Kiến quốc quy mô.

Tất cả pho “Quốc Sách” quy định cái quy mô đó, cần nói thêm chỉ là biện chứng pháp của kiến thiết nước ta trên mười năm đầu, chú toàn lực vào quốc phủ khu là cái trục tâm cho kiến thiết hướng thượng lại làm cái kho tàng cho kiến thiết toàn diện, đồng thời còn làm cái vốn liếng của chính phủ cho cuộc kiến thiết trên phương châm chủ nghĩa được triệt để. Một chương trình cách mạng ba mươi năm sẽ thực hiện thắng lợi bằng triết học, khoa học, thuật học của dự kế cách mạng đi đôi với một quy mô kiến quốc 500 năm sẽ thực hiện thành công bằng chế độ của thiên tài giáo dục làm cho ra hữu hình.

Người cách mạng trong sự tính toán cái mệnh hệ của dân tộc không những là không để một ly tư kiến và vũ đoán nào vào, lại còn không được đem vị trí riêng của mình đặt lẫn vào bàn toán ấy, đó là yếu điểm duy nhất của nhà lãnh đạo trong sự chỉ huy vận mệnh của dân tộc, của cách mạng và của Đảng.

THÁI DỊCH LÝ ĐÔNG A
1/11/4822 tuổi Việt (1943)

Leave Comment

You must be logged in to post a comment.